Các phương pháp mài trong gia công cơ kim loại

Mài là một trong những nguyên công quan trọng trong lĩnh vực gia công cắt gọt kim loại. Mài được coi là quá trình gia công tinh sau khi được gia công bằng các phương pháp như Tiện, Phay, Bào hoặc có thể là sau quá trình nhiệt luyện… nhằm nâng cao độ chính xác về kích thước và độ nhẵn bóng bề mặt của chi tiết gia công. 

Các loại máy mài càng hiện đại thì đá mài của chúng càng có thể gọt đi những lớp kim loại rất mỏng. Các máy mài công nghệ cao có thể đạt đến độ chính xác khi gia công khoảng 0.001mm. Phương pháp mài có thể được thực hiện trên những vật liệu từ cứng đến rất cứng (ví dụ như thép tôi…)

Có rất nhiều các phương pháp mài khác nhau phục vụ nhu cầu khác nhau của từng loại chi tiết. Sau đây là các phương pháp mài được sử dụng nhiều trong các xưởng, nhà máy gia công cơ khí:

I. Mài Phẳng

– Mài phẳng là phương pháp gia công tinh các mặt phẳng sau khi qua phay hoặc bào, đã hoặc chưa qua nhiệt luyện.

– Ngày nay do trình độ công nghệ đuợc nâng cao, xu hướng chung là người ta tập trung nghiên cứu thực hiện tối ưu hóa quá trình tạo phôi, giảm lượng dư gia công cắt gọt, nâng cao độ chính xác hình dạng, độ chính xác kích thước cũng như chất lượng bề mặt của phôi.

Có thể dùng mài thô thay thế các phương pháp gia công cắt gọt khác nhằm tiết kiệm vật liệu, giảm chi phí gia công cơ và rút ngắn quy trình công nghệ, đặc biệt  đối với các chi tiết khó gá đặt .

– Mài phẳng thông thường đạt độ chính xác cấp 7, Ra = 1.6 µm, nếu chuẩn bị công nghệ tốt có thể đạt độ chính xác cấp 6, Ra = 0.4 µm.  

Tuy nhiên, do diện tích tiếp xúc giữa đá và chi tiết nhỏ nên năng suất thấp. Để khắc phục nhược điểm này người ta có thể sử dụng đá có bề lớn hơn bề mặt rộng chi tiết. 

– Mài phẳng bằng đá mài mặt đầu: mài phẳng bằng mặt đầu của đá chậu nguyên hoặc ghép  cho năng suất cao, tiết kiệm đá và mở rộng được khả năng công nghệ của mài do:

  • Có thể mài đồng thời nhiều bề mặt trên máy mài chuyên dùng có nhiều trục đá khác nhau.
  • Có thể mài đồng thời hai mặt của một chi tiết bằng hai mặt đầu của hai viên đá khác nhau .

II. Mài tròn ngoài 

 – Mài tròn ngoài có tâm có tính vạn năng cao. Khi mài có thể gá chi tiết trên hai mũi tâm hoặc trên mâm cặp. Nên dùng hai lỗ tâm làm chuẩn tinh thống nhất để lượng dư đều và đảm bảo sự đồng tâm giữa các bậc trục.sau khi sử lý nhiệt luyện cần sửa lại lỗ tâm trước khi mài.

– Đặc điểm nổi bật của mài tròn ngoài là đoạn dài tiếp xúc rất ngắn giữa chia tiết và đá mài. Đồng nghĩa nhiệt cắt phát sinh trong lúc mài thấp, làm nguội thuận lợi và dễ dàng tiếp nhận phoi qua khoảng trống buồng chứa phoi của đá mài.

– Thông thường nên sử dụng phương pháp mài tròn ngoài có tâm tiến dao dọc với Sng = 0,005 – 0,02 mm/ 1 hành trình kép. Để lực hướng kính nhỏ, chi tiết ít bị biến dạng, nâng cao độ chính xác gia công. Khi mài tinh ở những hành trình cuối không nên tiến dao ngang mà chỉ thược hiện chuyển động  dao doc cho đến khi mài hết hoa lửa.

– Khi mài chi tiết ngắn có đường kính lớn, độ cứng vũng cao ta dùng phương pháp tiến đá hướng kính để tăng năng suất.

III. Mài tròn trong ( mài lỗ )

– Ngược với mài tròn ngoài, mài trong lỗ có đoạn tiếp xúc dọc trục lớn hơn giữa đá mài và chia tiết. Kết quả là phoi mỏng, dài, dẫn đến bị nén và đẩy vào  khoảng trống buồng phoi. Đá mài bị giới gian qua các đường kính lỗ và từ đó thay đổi nhanh kích thước lúc mài.

– Mài lỗ có khả năng gia công lỗ trụ, lỗ côn, lỗ định hình. Có hai phương pháp mài lổ: mài lỗ không tâm và mài lỗ có tâm.

  • Mài lỗ có tâm thường thực hiện trên các máy mài lỗ chuyên dùng, máy mài vạn năng có đầu mài lỗ hoặc đôi khi trong máy tiện vạn năng có trang bị đồ gá mài lỗ.
  • Mài lỗ không tâm là một trong các phương pháp gia công tinh lỗ có năng suất, độ chính xác và độ đồng tâm cao. Chuẩn gia công là mặt ngoài do đó mặt ngoài của chi tiết phải được gia công tinh hoặc bán tinh trước khi mài lỗ. khi mài lỗ không tâm ngoài đá mài, bánh dẫn còn phải có các con lăn đỡ và ép chi tiết tiếp xúc liên tục với bánh dẫn.

IV. Mài định hình

– Mài có thể gia công được các bề mặt định hình có đường sinh thẳng, ví dụ, mà các mặt định hình có tiết diện không thay đổi theo phương tiến dao dọc trên máy mài phẳng, các bề mặt định hình tròn xoay ngoài và trong.

– Mài định hình được thực hiện bằng cách sửa đá có hình dạng và kích thước theo âm bản của chi tiết. Khi mài rãnh định hình tên máy mài phẳng đầu đá chỉ thực hiện tiến dao thẳng đứng Sd sau mỗi hành trình kép để cắt hết chiều sâu rãnh. Khi mài các mặt định hình tròn xoay ngoài hoặc trong đầu đá chỉ thực hiện tiến dao ngang Sng.

Khi mài cam cần phải có cơ cấu chép hình giống như phay chép hình.

V. Mài vô tâm

 Mài vô tâm chi tiết được dẫn giữa để chặn, bánh mài và đĩa mài dẫn được mài trong suốt 1 lần đi qua.

– Đĩa mài thực hiện công đoạn mài trong khi đĩa mài dẫn chạy chậm hơn được bọc cao su và đặt nghiêng từ 2° ~  5°  tác động bước dẫn tiến. Chi tiết quay theo với khoảng tốc độ chu vi của đĩa mài dẫn.

Công nghệ làm nguội dùng Nitơ Lỏng

Công nghệ gia công khô ( Dry Machining)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.